Ứng dụng viễn thám và GIS trong đánh giá biến động đường bờ tại thành phố Rạch Giá, giai đoạn 2000 - 2020

Các tác giả

  • Lê Chí Lâm 1

    Lê Chí Lâm

    1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

  • Trần Minh Quân Phạm 2

    Trần Minh Quân Phạm

    2 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

  • Thị Kim Anh Võ 3

    Thị Kim Anh Võ

    3 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

  • Thị Huyền Trần 4

    Thị Huyền Trần

    4 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
3 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
4 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

DOI:

https://doi.org/10.5281/zenodo.21072275

Từ khóa:

Biến động đường bờ, Rạch Giá, MNDWI, OTSU, DSAS, Google Earth Engine
Received 2026-05-27
Published 2026-06-30

Tóm tắt

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng toàn cầu, vùng ven biển Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về xói lở và bồi tụ bờ biển. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự biến động đường bờ tại bờ biển thành phố Rạch Giá (tỉnh An Giang) thông qua công nghệ viễn thám bằng nền tảng Google Earth Engine, kết hợp với công nghệ GIS (công cụ DSAS). Trong nghiên cứu, phương pháp ảnh tỷ số MNDWI kết hợp kỹ thuật ngưỡng hóa OTSU được sử dụng cho trích xuất đường bờ dựa trên ảnh vệ tinh Landsat 5 và Landsat 8 đa thời gian trong giai đoạn 2000 – 2020 và sử dụng công cụ DSAS để tính toán, phân tích biến động của đường bờ thông qua các chỉ số SCE, NSM, EPR và LRR trong giai đoạn này. Kết quả nghiên cứu cho thấy đường bờ Rạch Giá có sự biến động mạnh theo hướng bồi tụ, phần lớn tương ứng với các khu vực đô thị lấn biển (chiếm khoảng 88,09% trên tổng chiều dài đường bờ bồi tụ). Cụ thể, tốc độ thay đổi đường bờ trung bình theo EPR của đường bờ Rạch Giá lên đến 6 – 10 m/năm, tốc độ LRR cũng đạt tối đa 11,94 m/năm, cho thấy sự bồi tụ mạnh ở khu vực đường bờ này. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý tổng hợp vùng bờ và quy hoạch phát triển đô thị ven biển bền vững.

Downloads

Download data is not yet available.

Tài liệu tham khảo

[1] Arjen Luijendijk, Gerben Hagenaars, Roshanka Ranasinghe, Fedor Baart, Gennadii Donchyts, and Stefan Aarninkhof, “The State of the World's Beaches”, Scientific Reports, vol. 8, p. 6641, 2018. doi: https://doi.org/10.1038/s41598-018-24630-6

[2] Edward J. Anthony, Guillaume Brunier, Manon Besset, Marc Goichot, Philippe Dussouillez, and Van Lap Nguyen, “Linking rapid erosion of the Mekong River delta to human activities”, Scientific Reports, vol. 5, p. 14745, 2015. doi: 10.1038/srep14745

[3] Toru Tamura et al., “Long-term sediment decline causes ongoing shrinkage of the Mekong megadelta, Vietnam”, Scientific Reports, vol. 10, p. 8085, 2020. doi: https://doi.org/10.1038/s41598-020-64630-z

[4] Patrick Marchesiello et al., “Erosion of the coastal Mekong delta: Assessing natural against man induced processes”, Continental Shelf Research, vol. 181, pp. 72–89, 2019. doi: https://doi.org/10.1016/j.csr.2019.05.004

[5] VnExpress, “Vietnam needs urgent guidelines for land reclamation from the sea”, VnExpress International, 2024. Accessed: Apr. 2, 2026. Available: https://e.vnexpress.net/news/perspectives/land-reclamation-needs-centralized-plan-4700993.html

[6] Thanh Phong Nguyen, Thanh Toan Luom, and Kevin E. Parnell, “Mangrove allocation for coastal protection and livelihood improvement in Kien Giang province, Vietnam: Constraints and recommendations”, Land Use Policy, vol. 63, pp. 401–410, 2017. doi: https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2017.01.048

[7] Noel Gorelick, Matt Hancher, Mike Dixon, Simon Ilyushchenko, David Thau, and Rebecca Moore, “Google Earth Engine: Planetary-scale geospatial analysis for everyone”, Remote Sensing of Environment, vol. 202, pp. 18–27, 2017. doi: 10.1016/j.rse.2017.06.031

[8] Karim Nassar, Wael E. Mahmod, Hussein Fath, Ahmed Masria, Kazuo Nadaoka, and Abdelazim Negm, “Shoreline change detection using DSAS technique: Case of North Sinai coast, Egypt”, Marine Georesources & Geotechnology, vol. 37, no. 1, pp. 81–95, 2018.

[9] Widyatmanti Arief and Wahyu Pramaditya, “Geometric Accuracy Assessment for Shoreline Derived from NDWI, MNDWI, and AWEI Transformation on Various Coastal Physical Typology in Jepara Regency using Landsat 8 OLI Imagery in 2018”, Geoplanning: Journal of Geomatics and Planning, vol. 6, no. 1, pp. 55–72, 2022.

[10] Pham Thi Huong, Nguyen Chi Kim, and Do Viet Uu, “Investigation of Shoreline Changes in the Coast of Haiphong Province from 1987 to 2018”, VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, vol. 37, no. 4, pp. 33–42, 2021.

[11] Mạc Quốc Khoát, Mạc Văn Công, and Phạm Ngọc Quy, “Phân tích biến động của đường bờ đảo Phú Quý sử dụng ảnh viễn thám trên nền Google Earth Engine và phần mềm DSAS”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, số 73, trang 92–99, 2021.

[12] Kilian Vos, Kristen D. Splinter, Mitchell D. Harley, Joshua A. Simmons, and Ian L. Turner, “CoastSat: A Google Earth Engine-enabled Python toolkit to extract shorelines from publicly available satellite imagery”, Environmental Modelling & Software, vol. 122, p. 104528, 2019. doi: https://doi.org/10.1016/j.envsoft.2019.104528

[13] Wahyu Rahma Astuti and Erycson Nathanael Arrofiqoh, “Mapping Shoreline Changes Using Digital Shoreline Analysis System in Coastal Areas of Bantul and Kulon Progo Regencies”, Journal of Geospatial Science and Technology, vol. 2, no. 2, pp. 35–44, 2024.

[14] Wenjing Tang et al., “Improved Spectral Water Index Combined with Otsu Algorithm to Extract Muddy Coastline Data”, Water, vol. 14, no. 6, pp. 855–870, 2022.

[15] Thanh Liem Nguyen, Nguyen Thi Huong Diep, and Nguyen Thi Can, “Monitoring Erosion and Accretion Situation in the Coastal Zone at Kien Giang Province”, The International Archives of the Photogrammetry, Remote Sensing and Spatial Information Sciences, vol. XLII-3/W4, pp. 197–201, 2018.

[16] Nguyen Thanh Phong, Kevin E. Parnell, and Andrew Cottrell, “Human activities and coastal erosion on the Kien Giang coast, Vietnam”, Journal of Coastal Conservation, vol. 21, pp. 967–979, 2017. doi: https://doi.org/10.1007/s11852-017-0566-9

[17] Nguyen Huu Hoa, Clive McAlpine, David Pullar, Stephen J. Leisz, and Grigoriy Gramotnev, “Drivers of coastal shoreline change: case study of the Hon Dat coast, Kien Giang, Vietnam”, Environmental Management, vol. 55, pp. 1093–1108, 2015. doi: https://doi.org/10.1007/s00267-015-0455-7

[18] Cao Van Cuong, Stuart Brown, Ho Huu To, and Marc Hockings, “Using Shoreline Video Assessment for coastal planning and restoration in the context of climate change in Kien Giang, Vietnam”, Ocean Science Journal, vol. 50, pp. 413–426, 2015. doi: https://doi.org/10.1007/s12601-015-0038-9

[19] Hanqiu Xu, “Modification of Normalised Difference Water Index (NDWI) to Enhance Open Water Features in Remotely Sensed Imagery”, International Journal of Remote Sensing, vol. 27, pp. 3025–3033, 2006. doi: https://doi.org/10.1080/01431160600589179

[20] Nobuyuki Otsu, “A threshold selection method from gray-level histograms”, IEEE Transactions on Systems, Man, and Cybernetics, vol. 9, pp. 62–66, 1979. doi: https://doi.org/10.1109/tsmc.1979.4310076

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2026-06-30

Cách trích dẫn

[1]
“Ứng dụng viễn thám và GIS trong đánh giá biến động đường bờ tại thành phố Rạch Giá, giai đoạn 2000 - 2020”, GCGIS, vol 12, số p.h 03, tr 33–46, tháng 6 2026, doi: 10.5281/zenodo.21072275.

Các bài báo tương tự

31-40 trên 78

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.